Tin tổng hợp khác
 
Tuyên truyền Luật nghĩa vụ quân sự
10/26/2020 9:35:39 PM
Luật nghĩa vụ quân sự đ ược Quốc hội n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2015 quy định

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1. Khái niệm Luật nghĩa vụ quân sự

Điều 66, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và Điều 1 Luật nghĩa vụ quân sự quy định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân.”. Việc Hiến pháp khẳng định nghĩa vụ và quyền bảo vệ Tổ Quốc là thiêng liêng là cao quý, đã nói lên ý nghĩa, vị trí quan trọng của nghĩa vụ và quyền đó. Do vậy mỗi công dân có bổn phận phải thực hiện đầy đủ.

*Nghĩa vụ quân sự được chia làm hai loại:

+) Phục vụ tại ngũ: Công dân phục vụ tại ngũ gọi là quân nhân tại ngũ.

+) Phục vụ trong ngạch dự bị của quân đội: Công dân phục vụ trong ngạch dự bị gọi là quân nhân dự bị.

2. Đối tượng tham gia nghĩa vụ quân sự

Đối tượng tham gia nghĩa vụ quân sự bao gồm:

- Công dân nam, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi cư trú, có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.(Khoản 1, Điều 6).

- Công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự trong thời bình nếu tự nguyện và quân đội có nhu cầu thì được phục vụ tại ngũ (Khoản 2, Điều 6).

- Đối tượng không tham gia nghĩa vụ quân sự bao gồm người đang trong thời kỳ bị pháp luật hoặc Tòa án nhân dân tước quyền phục vụ trong các lực lượng vũ trang nhân dân và người đang bị giam giữ,bị cấm cư­ trú, bị quản chế đều không được làm nghĩa vụ quân sự(Điều 13).

II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

1. Việc phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ

Nội dung Chương 3 từ điều 21 đến điều 29 quy định về độ tuổi nhập ngũ và thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ.

a) Độ tuổi gọi nhập ngũ (Điều 31)

- Độ tuổi gọi nhập ngũ đ­ược quy định từ đủ 18 đến hết 25 tuổi .

- Công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

- Công dân nam đến 17 tuổi, có nguyện vọng phục vụ lâu dài trong quân đội, có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thì có thể được nhận vào học ở trường quân sự và được công nhận là quân nhân tại ngũ.

b) Thời hạn phục vụ tại ngũ

- Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ thời bình là 24 tháng

( Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kĩ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là 24 tháng.)

- Khi cần thiết, Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng được quyền giữ hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ tại ngũ thêm một thời gian không quá sáu tháng so với thời gian quy định, với các trường hợp sau:

+ Đảm bảo nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu;

+ Đang thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn.

- Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sỹ quan, binh sỹ trong tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được thực hiện theo lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ (Điều 21).

2. Việc chuẩn bị cho thanh niên nhập ngũ, việc nhập ngũ và xuất ngũ

a) Việc chuẩn bị cho thanh niên nhập ngũ

Việc chuẩn bị cho thanh niên nhập ngũ, được quy định tại Chương IV từ điều 30 đến điều 40. Nội dung Chương IV quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông và quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gồm:

- Huấn luyện quân sự phổ thông.

+ Huấn luyện quân sự phổ thông là biện pháp giáo dục quốc phòng nhằm cung cấp những kỹ năng quân sự cơ bản, tối thiểu, cần thiết cho đông đảo quần chúng nhằm chuẩn bị cho thanh niên trong độ tuổi luật định trước khi nhập ngũ, chuẩn bị điều kiện hoàn thành nghĩa vụ quân sự đối với Tổ quốc. Việc huấn luyện quân sự phổ thông không thoát ly học tập và sản xuất.

+ Công dân nam, trước khi đến tuổi nhập ngũ và trước khi nhập ngũ, phải được huấn luyện theo chương trình quân sự phổ thông, bao gồm giáo dục chính trị, huấn lu
 
NHân dân xã đại hợp đang tiến hành thủ hoạch lúa mùa, triển khai kế hoạch trồng cây màu vụ đông
10/6/2020 10:09:12 AM
 
Thực hiện các giải pháp nhằm đưa Luật trẻ em vào cuộc sống
8/10/2020 9:34:10 PM
Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam qua nhiều giai đoạn lịch sử từ Cách mạng tháng Tám và hệ thống pháp luật quốc gia đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”.

Luật trẻ em (được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 05/4/2016 tại kỳ họp thứ 11) đã quy định cụ thể các quyền và bổn phận của trẻ em; các chính sách và biện pháp cơ bản về chăm sóc, giáo dục, văn hóa, thông tin, đặc biệt là về bảo vệ và thúc đẩy sự tham gia của trẻ em. Luật cũng quy định chi tiết trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em.

Để Luật trẻ em mới được triển khai có hiệu quả, đi vào cuộc sống, cần phải triển khai đồng bộ các biện pháp để từng bước đạt mục đích xây dựng một môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện cho trẻ em; ưu tiên tạo điều kiện để mọi trẻ em được phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và phát huy tối đa tiềm năng của mỗi trẻ em. Cần nhanh chóng khắc phục những hạn chế, yếu kém trong việc đầu tư, phân bổ nguồn lực cho các chương trình, mục tiêu về trẻ em; sự thiếu trách nhiệm và thiếu đồng bộ trong phối hợp liên ngành, liên cấp, liên địa phương để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực hiện quyền trẻ em; sự thiếu chủ động trong việc phòng ngừa, giảm thiểu các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em cũng như thiếu kịp thời trong việc hỗ trợ, can thiệp cho trẻ em bị xâm hại. Cần tăng cường giám sát việc báo cáo, giải trình của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền trẻ em.

Theo quy định của Luật trẻ em mới, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý nhà nước chung về trẻ em, điều phối việc thực hiện quyền trẻ em. Trong năm 2017, Bộ sẽ tập trung triển khai những công tác chủ yếu sau:

1. Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em trong tình hình mới đến từng chi bộ, đảng bộ cơ sở và Ban công tác Mặt trận, các tổ chức đoàn thể trên địa bàn dân cư. Phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương thực hiện và hướng dẫn thực hiện việc kiểm tra, giám sát chuyên đề từng nội dung của Chỉ thị số 20-CT/TW và việc chỉ đạo triển khai những quy định mới của Luật trẻ em đối với các cấp ủy đảng.

2. Phổ biến, giáo dục Luật trẻ em, tập trung cho những nội dung, chính sách, biện pháp mới được quy định trong Luật. Xây dựng danh mục và triển khai thực hiện việc định hướng nội dung, biên soạn tài liệu và thực hiện các hoạt động phổ biến, giáo dục Luật phù hợp với từng nhóm đối tượng: công chức quản lý nhà nước, viên chức cung cấp dịch vụ công, người làm công tác bảo vệ trẻ em và cộng tác viên bảo vệ trẻ em ở cộng đồng dân cư, cán bộ tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các thành viên gia đình.

3. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các nội dung được giao trong Luật. Về lâu dài, cần rà soát hệ thống pháp luật và văn bản dưới luật cũng như các chính sách liên quan đến trẻ em để có lộ trình bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với Luật trẻ em - một trong những Luật thuộc hệ thống văn bản pháp luật về quyền con người.

4. Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và đề án thành lập Tổ chức phối hợp liên ngành về trẻ em. Với vai trò, nhiệm vụ thường trực cho Tổ chức này, Bộ cần chuẩn bị cơ sở vật chất, nguồn lực, giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị trực thuộc để tham mưu, giúp việc cho Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực trẻ em và các
 
Tuyên truyền về phòng chống bạo lực gia đình
7/26/2020 9:37:35 PM
Bạo lực gia đình là vấn nạn của xã hội, gây nhức nhối cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ, trẻ em. Ở Việt Nam, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm tới việc phòng, chống bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp như: Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự,..và đặc biệt Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007. Những văn bản này đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Nhưng đánh giá một cách khách quan thì các quy phạm pháp luật này chưa thực sự đi vào cuộc sống, sự quan tâm và hiểu biết về lĩnh vực này chưa đi vào chiều sâu, tình trạng bạo lực trong gia đình chưa có nhiều thay đổi và chưa có những chuyển biến tích cực . Hơn thế nữa , hiện nay nó dần trở thành như một sự việc,hiện tượng đáng quan tâm của toàn xã hội.

I.Thực trạng bạo lực giữa các thành viên trong gia đình:

Bạo lực giữa người chồng đối với người vợ trong gia đình có thể thấy là dạng bạo lực phổ biến nhất trong gia đình. Hành vi người chồng gây ra chủ yếu và lớn nhất là bạo lực về thể chất, đây là dạng dễ nhận thấy và bị lên án mạnh mẽ nhất. Sỡ dĩ đa phần người đàn ông sử dụng “nắm đấm” để dạy vợ là do họ không nhận thức được rằng hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, không phải tất cả hành vi bạo lực của người chồng đều là bạo lực về thể chất mà có những lúc, họ dùng tới nhiều cách khác để gây ra những tổn thương về tâm lý cho người vợ: mắng mỏ, chửi bới, xúc phạm danh dự…; hoặc có những hành vi cưỡng bức về tình dục, kiểm soát về kinh tế…Nhưng trong xã hội ngày nay, hiện tượng người vợ sử dụng bạo lực đối với chồng cũng không phải là hiếm. Không chỉ dừng lại ở những lời lẽ chửi bới, những cách ứng xử thô bạo mà họ còn trực tiếp gây ra những tổn thương về thể chất hoặc tính mạng của người chồng.

Tóm lại, bạo lực gia đình xuất phát từ cả hai phía vợ và chồng đang ngày càng phát triển và gây nhức nhối trong xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các thành viên khác trong gia đình, đặc biệt là trẻ em. Nguyên nhân của hiện tượng này rất nhiều, ngoài vấn đề tâm lý còn phải kể đến vấn đề đạo đức, kiến thức giải quyết mâu thuẫn gia đình…

Ngoài ra hiện nay còn có tình trạng bạo lực giữa cha mẹ và con cái. Với tâm lý, truyền thống, thói quen của người Việt, thì vấn đề bạo lực giữa cha mẹ với con cái được xã hội chấp nhận và khá phổ biến. Có thể dễ dàng nhận thấy đó là những hành động “dạy bảo” con cái xuất phát từ cái quan niệm gọi là “Yêu cho roi cho vọt – Ghét cho ngọt cho bùi” và giáo dục thì cần phải nghiêm khắc. Rất nhiều ông bố bà mẹ coi việc đánh đập, chửi mắng con cái khi chúng mắc lỗi là cần thiết để chúng nhận ra sai lầm và sửa chữa; hay coi việc mạt sát, trách móc là động lực để chúng phấn đấu. Trên thực tế chúng ta đều có thể nhận thấy, cách làm này phần nào phù hợp với tâm lý của người Việt và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay, khi những chuẩn mực tiến bộ về quyền con người đã và đang phổ biến trên thế giới thì những tư tưởng, cách làm này cần được sớm loại bỏ. Đặc biệt, là những trường hợp bạo lực với con cái vượt ra ngoài phạm vi giáo dục - một tình trạng ngày càng gia tăng thì cần phải bị trừng trị nghiêm khắc.

Bên cạnh những hành vi từ phía cha mẹ đối với con cái, thì bạo lực gia đình xuất phát từ người con đối với cha mẹ mình cũng đang ngày càng gia tăng. Một số trường hợp người trẻ tuổi gây ra những tổn thương về cả vật chất, tinh thần cho cha mẹ do sự thiếu kiềm chế, do đua đòi hư hỏng hoặc một vài lý do khác. Tuy nhiên, không thể bào chữa, biện hộ cho những người con đã khôn lớn trưởng thành dưới bàn tay yêu thương, nuôi dạy của cha mẹ nhưng lại bỏ bê, không chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, thậm chí hơn là đánh đập, chửi mắng, xỉ nhục những người đã có công sinh thành, nuôi dưỡng mình. Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy nguyên nhân đơn giản dẫn đến hành vi trên là do: nhữ
 
Tuyên truyền Bộ Luật Dân Sự
5/13/2020 9:29:18 PM
Ngày 24/11/2015 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13. Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017. Bộ luật dân sự 2015 gồm 6 Phần, 27 Chương, 689 Điều.

Bộ luật dân sự năm 2005 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/6/2005 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật dân sự Việt Nam, phát huy thành tựu của Bộ luật dân sự năm 1995 và kinh nghiệm gần 20 năm đổi mới. Sau hơn 09 năm thi hành, Bộ luật dân sự cơ bản đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới của đất nước đặc biệt là yêu cầu về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 thì Bộ luật dân sự hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập.Bộ luật dân sự là một đạo luật có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát triển kinh tế - xã hội mà còn cả về mặt xây dựng pháp luật. Do vậy, tại kỳ họp thứ 10 Bộ luật dân sự được Quốc hội Khóa XIII, thông qua ngày 24/11/2015; được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.

Bộ luật dân sự 2015 gồm 6 Phần, 27 Chương, 689 Điều (Thay vì Bộ luật dân sự 2005 là 7 Phần, 36 Chương, 777 Điều). Cấu trúc Bộ luật dân sự năm 2015 có phần khác biệt BLDS cũ, được sắp xếp như sau:

Phần thứ nhất "Quy định chung" (từ Điều 1 đến Điều 157) gồm 10 chương: Chương I: Những quy định chung; Chương II: Xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự; Chương III: Cá nhân; Chương IV: Pháp nhân; Chương V: Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự; Chương VI: Hộ gia đình, tổ hơp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự; Chương VII: Tài sản; Chương VIII: Giao dịch dân sự; Chương IX: Đại diện; Chương X: Thời hạn và thời hiệu.

Phần thứ hai "Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản" (từ Điều 158 đến Điều 273) gồm 4 chương: Chương XI: Quy định chung; Chương XII: Chiếm hữu; Chương XIII: Quyền sở hữu; Chương XIV: Quyền khác đối với tài sản;

Phần thứ ba "Nghĩa vụ và hợp đồng" (từ Điều 274 đến Điều 608) gồm 6 chương: Chương XV: Quy định chung; Chương XVI: Một số hợp đồng thông dụng; Chương XVII: Hứa thưởng, thi có giải; Chương XVIII: Thực hiện công việc không có ủy quyền; Chương XIX: Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; Chương XX: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Phần thứ tư "Thừa kế" (từ Điều 609 đến Điều 662) gồm 4 chương: Chương XXI: Quy định chung; Chương XXII: Thừa kế theo di chúc; Chương XXIII: Thừa kế theo pháp luật; Chương XXIV: Thanh toán và phân chia di sản.

Phần thứ năm "Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài" (từ Điều 663 đến Điều 687) gồm 3 chương: Chương XXV: Quy định chung; Chương XXVI: Pháp luật áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân; Chương XXVII: Pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân.

Phần thứ sáu "Điều khoản thi hành" (từ Điều 688 đến Điều 689). Phần này quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp.

Về tổng quan Bộ Luật dân sự năm 2015 đã kế thừa, phát huy và đã khắc phục những vấn đề tồn tại của Bộ luật dân sự 2005 cụ thể:

Về chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự: Trong quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể tham gia có vị trí độc lập, bình đẳng, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau. So với quy định của Bộ luật dân sự 2005, vấn đề về chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự được quy định tại Bộ luật dân sự 2015 có nhiều điểm khác biệt.

Điều 1 Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác". Như vậy, chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự được quy định tại BLDS 2015 bao gồm cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Các chủ thể khác ở đây
 
Hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 122/2018/NĐ-CP về việc xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”
5/3/2020 9:26:29 PM
Từ năm 2019 việc xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” sẽ thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị định 122/2018/NĐ-CP.
Về nguyên tắc bình xét, công nhận các danh hiệu phải đảm bảo tính khách quan, công bằng, chính xác và công khai; được thực hiện trước ngày 30/1 và bình xét trước ngày 20/12 hàng năm trên cơ sở tự nguyện và chỉ xét những gia đình, khu dân cư có đăng ký tham gia.
Về quy trình xét tặng danh hiệu Gia đình văn hóa hàng năm: Gồm 5 bước (Đăng ký thi đua – Trưởng khu dân cư lập danh sách xét danh hiệu – Họp xét – Trưởng khu dân cư dựa trên kết quả xét lập hồ sơ khen thưởng – Chủ tịch UBND cấp xã xét tặng danh hiệu GĐVH hàng năm).
Về quy trình xét tặng danh hiệu Khu dân cư văn hóa hàng năm: Gồm 5 bước (Đăng ký thi đua – UBND xã lập danh sách xét danh hiệu – Họp bình xét – Chủ tịch UBND xã dựa trên kết quả xét lập hồ sơ khen thưởng - Chủ tịch UBND cấp huyện xét tặng danh hiệu Khu dân cư văn hóa hàng năm).
Về quy trình xét tặng Giấy khen gia đình văn hóa: Gồm 4 bước (Trưởng khu dân cư tổng hợp danh sách gia đình đủ điều kiện – Họp bình xét – Trưởng khu dân cư dựa trên kết quả xét lập hồ sơ - Chủ tịch UBND xã quyết định tặng Giấy khen gia đình văn hóa) và chỉ xét cho hộ gia đình 3 năm liên tục được công nhận danh hiệu gia đình văn hóa.
Về quy trình xét tặng Giấy khen khu dân cư văn hóa: Gồm 5 bước (UBND xã tổng hợp danh sách khu dân cư đủ điều kiện – Họp bình xét – UBND xã dựa trên kết quả xét lập hồ sơ - Chủ tịch UBND huyện tổ chức họp Hội đồng thi đua khen thưởng – Chủ tịch UBND huyện quyết định tặng Giấy khen khu dân cư văn hóa) và chỉ xét cho khu dân cư văn hóa 5 năm liên tục được công nhận danh hiệu khu dân cư văn hóa.
Ngoài ra, văn bản cũng hướng dẫn cụ thể thang điểm áp dụng theo khu vực để đạt danh hiệu Gia đình văn hóa, Khu dân cư văn hóa; các bước chấm điểm đối với hộ gia đình, khu dân cư; Kinh phí cho việc xét tặng các danh hiệu văn hóa, giấy khen cũng như mẫu giấy công nhận danh hiệu Khu dân cư văn hóa./.
 
Tuyên truyền một số nội dung liên quan đến luật đất đai
2/26/2020 9:40:36 PM
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI

HÀNH VI BỊ CẤM TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 xác định các hành vi sau đây là những hành vi bị nghiêm cấm:

(1) Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai. Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất. Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước giao, cho thuê nhưng hết thời hạn giao, cho thuê đất không được Nhà nước gia hạn sử dụng mà không trả lại đất hoặc sử dụng đất khi chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Hủy hoại đất là hành vi làm biến dạng địa hình, làm suy giảm chất lượng đất, gây ô nhiễm đất, làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.

(2) Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố. Quy hoạch sử dụng đất được xây dựng 10 năm một lần, kế hoạch sử dụng đất được xây dựng 5 năm một lần, riêng kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được xây dựng hàng năm. Để Nhà nước có thể thực hiện được các mục tiêu trên thì người sử dụng đất cần sử dụng đất đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

(3) Không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích. Đất đai là một loại tư liệu sản xuất quan trọng. Nếu như người sử dụng đất có đất mà không sử dụng thì đó chính là hành vi trực tiếp gây lãng phí đất đai. Sử dụng đất không đúng mục đích là việc người sử dụng đất không sử dụng đúng theo mục đích đã đăng ký với Nhà nước. Việc sử dụng đất không đúng mục đích vừa gây khó khăn cho quản lý nhà nước, đồng thời cũng có thể là hành vi gián tiếp gây lãng phí đất đai.

(4) Không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất. Hành vi này được thể hiện cụ thể như tự ý chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đất đang có tranh chấp, đất đang bị kê biên để bảo đảm thi hành án, đất đã hết thời hạn sử dụng nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn; tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở…

(5) Nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân. Với mục đích hạn chế tích tụ đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp - loại đất sản xuất đặc biệt quan trọng, pháp luật đất đai đặt ra quy định về hạn mức nhận chuyển quyền đối với quyền sử dụng đất nông nghiệp. Hạn mức nhận chuyển quyền cụ thể đối với từng loại đất được quy định tại Điều 44 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Các hộ gia đình, cá nhân chỉ được chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp nằm trong hạn mức này. Hành vi tự ý nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền theo quy định của pháp luật có thể bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật; đồng thời buộc trả lại diện tích đất đã nhận chuyển quyền vượt hạn mức do thực hiện hành vi vi phạm trên.

(6) Sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đăng ký sử dụng đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm cả đăng ký lần đầu và đăng ký biến động theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai năm 2013 là hoạt động bắt buộc đối với người sử dụng đất, nhằm phục vụ cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước. Người sử dụng đất không thực hiện đăng ký đất đai có thể bị áp dụng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.

(7) Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Đất đai tại Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện việc trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác trong xã hội sử dụng và các chủ thể sử dụng đất có nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.

(8) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn đ
 
Đánh giá việc thực hiện 46 chỉ tiêu môi trường
11/14/2015 10:45:12 AM
Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì đánh giá 23 chỉ tiêu, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá 11 chỉ tiêu...
 
Sớm có quy chế để duy trì các xã đạt chuẩn nông thôn mới
11/13/2015 2:12:53 PM
Sau 5 năm triển khai xây dựng nông thôn mới (NTM), tỉnh ta đã có 15 xã được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn NTM, trong đó có 13 xã được công nhận từ năm 2014.
 
Phó Chủ tịch UBND tỉnh tiếp Đoàn đại biểu Tổ chức Destinées C.H Pháp
11/12/2015 2:46:40 PM
Chiều 11/11/2015, Đoàn đại biểu Tổ chức Destinées C.H Pháp, do ông Raymond SPERONI, Chủ tịch Hội kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Hoa Trắng đã đến chào xã giao Lãnh đạo UBND tỉnh đồng thời báo cáo về tình hình hoạt động nhân đạo của Tổ chức Destinées và Hiệp hội Hoa Trắng trong thời gian qua tại Hải Dương.
 
1
 
Hát về Tứ Kỳ
BỘ PHẬN MỘT CỬA
 
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay55 
 Hôm qua0
 Tuần này56 
 Tất cả48032 
IP: 44.201.94.72